Cục tần số vô tuyến điện

115 Trần Duy Hưng -P. Trung Hoà-Q. Cầu Giấy

+84 04-5564919    Fax: +84 04-5564930

contact@rfd.gov.vn

www.rfd.gov.vn

Thông tin khác

I. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH

 

Phổ tần số  vô tuyến điện là nguồn tài nguyên thiên nhiên hữu hạn và quý giá. Việc quản lý và sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên này có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Từ năm 1959, Chính phủ đã có các Nghị định 344/TTg về quản lý máy phát VTĐ và Nghị định 345/TTg về quản lý tần số VTĐ. Tổ chức quản lý tần số VTĐ cũng đã sớm hình thành và hoạt động phù hợp với yêu cầu và nhiệm vụ trong từng giai đoạn.

Từ trước năm 1978, công tác quản lý tần số được giao cho Đài C19 thuộc Cục Điện chính, từ năm 1978 là Vụ Điện chính. Tháng 10/1982 thành lập Trung tâm Tần số VTĐ thuộc Tổng cục Bưu điện. Đến giữa năm 1985, Trung tâm Tần số chia làm 2 bộ phận là Phòng Quản lý Tần số thuộc Vụ Điện chính và Đài kiểm soát thuộc Công ty Điện báo Bưu điện Hà Nội. Tháng 5/1989, thành lập Trung tâm Quốc gia KSTS VTĐ thuộc TCBĐ, năm 1991, đổi tên thành Trung tần Quốc gia quản lý tần số trực thuộc Bộ GTVT Bưu điện. Những tổ chức tiền thân này của  Cục tần số vô tuyến điện đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, đáp ứng các yêu cầu của từng giai đoạn phát triển.

Trong những năm đầu của thập kỷ 90, thông tin vô tuyến điện trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng đã có sự phát triển rất mạnh mẽ, đặc biệt là sự ra đời và phát triển nhanh chóng của các hệ thống thông tin di động tế bào. Trong các lĩnh vực hàng không, hàng hải, phát thanh truyền hình, thiên văn, khí tượng, khoa học, công nghiệp và y tế... thông tin vô tuyến điện và sóng vô tuyến điện cũng được ứng dụng hết sức rộng rãi. Điều đó đặt ra yêu cầu phải đổi mới và nâng cao hiệu quả của công tác quản lý tần số, đảm bảo điều kiện cho các nghiệp vụ thông tin vô tuyến điện phát triển nhanh chóng và không bị can nhiễu có hại. Ngày 8/6/1993, Tổng cục trưởng TCBĐ đã có Quyết định số 494/QĐ-TCBĐ thành lập Cục Tần số VTĐ, trực thuộc TCBĐ, có chức năng tham mưu và trực tiếp thừa hành công tác quản lý nhà nước về tần số và các thiết bị phát sóng VTĐ trong cả nước.

Cùng với việc thừa nhận tần số vô tuyến điện là nguồn tài nguyên thiên nhiên hữu hạn và quý hiếm trong Nghị định 121/ HĐBT ngày 15/8/1987, việc thành lập Cục Tần số vô tuyến điện đánh dấu sự đổi mới quan trọng về tư duy quản lý tần số, tạo ra tiền đề về pháp lý và tổ chức để quản lý thống nhất và có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên quý hiếm này. 

II. NHỮNG THÀNH TỰU ĐẠT ĐƯỢC

            1. Xây dựng chính sách quản lý tần số:

Ngay từ khi mới thành lập, Cục Tần số đã xác định cơ chế và chính sách quản lý tần số đóng một vai trò quan trọng trong quản lý nhà nước về tần số VTĐ. Năm 1993 cũng là năm nhà nước phân định rõ chức năng quản lý nhà nước và sản xuất kinh doanh trong ngành Bưu điện. Sự phát  triển nhanh chóng của các nghiệp vụ thông tin vô tuyến điện đòi hỏi cần có sự đổi mới về các cơ chế và chính sách quản lý. Do vậy, công tác quản lý tần số cũng đòi hỏi phải có sự thay đổi cho phù hợp. Từ ngày thành lập đến nay, Cục Tần số VTĐ đã đề xuất và tham gia xây dựng nhiều văn bản quy phạm pháp luật quan trọng, như:

Năm 1994, Cục đã chủ trì xây dựng và trình TCBĐ ban hành 2 quyết định 73/QĐ-TCBĐ và quyết định 185/QĐ-TCBĐ về quy định mở mạng viễn thông dùng riêng, cấp phép sử dụng tần số và máy phát VTĐ, trách nhiệm quyền hạn của các cơ quan quản lý trong công tác kiểm tra, kiểm soát xử lý vi phạm.

Năm 1997, Cục đã tham gia soạn thảo phần quản lý tần số trong Nghị định 109/1997/NĐ-CP ngày 12/11/1997 về Bưu chính viễn thông và Nghị định 79/CP ngày 19/6/1997 vể Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước về BCVT vầ tần số VTĐ. Những văn bản pháp quy quan trọng này cùng với các thông tư hướng dẫn ban hành sau đó đã phản ánh khá đầy đủ những đổi mới về tư duy và chính sách quản lý tần số.

Năm 2001, Cục chủ trì soạn thảo phần tần số vô tuyến điện trong pháp lệnh Bưu chính viễn thông, được Nhà nước ban hành ngày 25/5/2002,

Năm 2002, Cục đã chủ trì soạn thảo Nghị định của Chính phủ hướng dẫn thực hiện Pháp lệnh Bưu chính Viễn thông phần tần số vô tuyến điện

Hiện nay, Cục đang tiến hành nghiên cứu, xây dựng dự thảo Luật tần số vô tuyến điện.

2.  Quy hoạch tần số:

Quy hoạch tần số là một trong những nội dung đặc biệt quan trọng của quản lý tần số. Thành tích nổi bật của Cục trong công tác quy hoạch tần số là xây dựng và được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ban hành bản “Quy hoạch phổ tần số vô tuyến điện của Việt nam cho các nghiệp vụ” theo Quyết định số 85/1998/QĐ-TTg. Đây là lần đầu tiên, Việt nam có quy hoạch  hoàn chỉnh về phân chia phổ tần cho các nghiệp vụ thông tin vô tuyến điện. Điều đó đã tạo ra các tiền đề pháp lý và kỹ thuật cho việc quản lý tần số một cách khoa học, chấn chỉnh tình trạng sử dụng tần số, nhập khẩu thiết bị một cách tự do, tuỳ tiện, gây lãng phí tài nguyên phổ tần trước đây. Để phù hợp hơn với sự phát triển ngày càng mạnh mẽ  của các nghiệp vụ và công nghệ vô tuyến điện cũng như nhu cầu phát triển của các nghiệp vụ vô tuyến điện ở Việt Nam trong những năm tới, đảm bảo sự phát triển hài hoà giữa các nghiệp vụ, đồng thời cập nhật các kết quả nghiên cứu của Liên minh viễn thông quốc tế (ITU), Cục tần số đã chủ trì nghiên cứu, sửa đổi và được Tổng cục trưởng TCBĐ ký ban hành bản “Điều chỉnh Quy hoạch phổ tần số VTĐ của Việt Nam cho các nghiệp vụ” trong quyết định số 907/QĐ-TCBĐ ngày 30/10/2002.

Năm 2000, Cục đã hoàn thành xây dựng và được Lãnh đạo Tổng cục Bưu điện ký ban hành “Quy hoạch phân kênh cho nghiệp vụ cố định và lưu động dải tần 30MHz đến 30GHz” ngày 12/12/2000. Kết quả đó thể hiện những nỗ lực to lớn của Cục trong việc nghiên cứu xây dựng và phối hợp với các ngành hữu quan để có một quy hoạch phân kênh khoa học và có tính khả thi, được các ngành liên quan chấp thuận và thực hiện.

         Song song với Quy hoạch phân kênh, Cục đã xúc tiến xây dựng Quy hoạch phân vùng tái sử dụng tần số, quy hoạch kênh truyền hình và bước đầu đã có những kết quả tích cực. Dự thảo quy hoạch kênh cho 3 chương trình truyền hình trung ương và 66 chương trình truyền hình địa phương và khu vực đã được hoàn thành, nhận được sự ủng hộ rộng rãi của các Bộ, Ngành và sẽ sớm trình Bộ trưởng ban hành trong thời gian tới.

        Một trong những đóng góp đáng kể của Cục là xây dựng và được Bộ trưởng Bộ BCVT ban hành Quy hoạch băng tần thông tin di động. Quy hoạch  băng tần cho thông tin di động  quy định công nghệ, số lượng nhà khai thác, các đoạn băng tần và điều kiện sử dụng, tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp, cho phép thúc đẩy sự phát triển dịch vụ này trong những năm tới. Cục cũng đã hoàn thành dự thảo Quy hoạch băng tần IMT-2000, định hướng cho việc triển khai thông tin di động thế hệ thứ 3, tạo thuận lợi cho sự hội tụ giữa ba dịch vụ phát triển nhanh là thông tin di động, Internet và multimudia. Các quy hoạch này thể hiện rõ chính sách công khai, minh bạch trong quản lý nhà nước về tần số của Bộ BCVT, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp chủ động trong việc định hướng về công nghệ và đầu tư, đồng thời, nâng cao hiệu quả sử dụng phổ tần cũng như cơ sở hạ tầng viễn thông.

         Nghiên cứu, thực hiện phân chia băng tần giữa dân sự, an ninh quốc phòng cũng được đẩy mạnh, nhằm tránh gây can nhiễu, tạo điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng có hiệu quả băng tần giữa ba khối dân sự, an ninh và quốc phòng. Năm 1999, Cục đã hoàn thành phân chia băng tần giữa AN-QD-DS dải 9KHz-30Mhz và hoàn thành phân chia dải 30MHZ-100Mhz trong năm  2001. Hiện nay, Cục  đang  phối hợp chặt chẽ với Bộ Công an và Bộ Quốc phòng để triển khai phân chia băng tần giữa An ninh- Quốc phòng-Dân sự dải tần (100-500)MHz.

3. Ấn định tần số và cấp phép:

Ấn định và cấp phép sử dụng tần số và thiết bị phát sóng vô tuyến điện là là một trong những chức năng thừa hành quản lý Nhà nước được Cục Tần số vô tuyến điện hết sức chú trọng. Từ chỗ  chỉ chủ yếu cấp phép cho các mạng dùng riêng, Cục đã triển khai cấp phép cho các mạng viễn thông công cộng. Thực tế đã chứng tỏ rằng việc triển khai kịp thời việc ấn định và cấp phép cho các mạng công cộng đã có ý nghĩa rất quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng phổ tần, tạo điều kiện cho các bước quy hoạch tiếp theo, đảm bảo điều kiện về tần số cho các nhà kinh doanh dịch vụ viễn thông mới ra đời. Đến nay, Cục đã cấp phép cho các Công ty thông tin di động (MobiFone, Vinaphone), Công ty viễn thông quốc tế (VTI), Công ty viễn thông liên tỉnh (VTN), Công ty cổ phần viễn thông Sài Gòn (SPT), Công ty điện tử Viễn thông quân đội (VIETEl), Công ty điện tử hàng hải (VISHIPEL), Công ty Viễn thông Điện lực (ETC) v.v...theo định hướng công bằng, bình đẳng, tạo cơ hội cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp.

         Sau khi Quyết định 73/TCBĐ-QĐ được TCBĐ ban hành năm 1994, việc cấp phép cho các mạng thông tin vô tuyến dùng riêng đã được đẩy mạnh, mở rộng diện dịch vụ và băng tần được cấp phép. Tất cả các dịch vụ thông tin vô tuyến dùng riêng từ vô tuyến HF, bộ đàm, định vị, dẫn đường hàng không, hàng hải, rada khí tượng.v.v.. đều đã được quản lý bằng ấn định và cấp phép. Nhờ đó việc sử dụng phổ tần đã trở nên có trật tự và hiệu quả, hạn chế tối đa khả năng gây can nhiễu lẫn nhau. Từ năm 2002, việc cấp phép cho các đài phát VTĐ đặt trên phương tiện nghề cá của tư nhân cũng đã được triển khai trên diện rộng.

Quản lý tần số phát thanh truyền hình là một trong những nhiệm vụ rất được Cục chú trọng, do phát thanh truyền hình là một nghiệp vụ có một tỷ lệ phổ tần rất lớn và dùng chung với các nghiệp vụ thông tin VTĐ khác. Đến nay, Cục đã thực hiện cấp phép và quản lý ….. máy phát thanh, phát hình bao gồm hệ thống truyền dẫn và phát sóng của các Đài truyền hình Việt nam, Đài tiếng nói Việt Nam và các đài phát thanh truyền hình của 64 tỉnh, thành phố.

        Công tác ấn định và cấp phép tần số  đã đưa việc sử dụng tần số thực sự đi vào nề nếp, nguồn tài nguyên thiên nhiên được sử dụng có hiệu quả hơn, tránh gây lãng phí. Thông qua việc cấp phép, các tổ chức và cá nhân đã thực hiện nghĩa vụ nộp phí sử dụng tần số và máy phát, tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Nếu năm 1993, Cục chỉ cấp mới và gia hạn được 3000 giấy phép, thì đến nay Cục đã cấp mới và gia hạn được …. giấy phép, đưa tổng số giấy phép được cấp từ năm 1993 đến nay lên ….. giấy phép cho cả 3 mạng Công cộng, Dùng riêng và Phát thanh truyền hình.

Công tác ấn định tần số và cấp phép cũng đã có những bước cải tiến nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu hiện đại hóa công tác quản lý tần số trên toàn quốc. Cục đã nghiên cứu xây dựng các mẫu bản khai và giấy phép sử dụng tần số máy phát VTĐ mới. Các bản khai mới cho phép bổ sung nhiều thông số kỹ thuật của thiết bị VTĐ cần thiết cho việc tính toán ấn định tần số bằng các phư­ơng pháp khoa học và hệ thống máy tính hiện đại.

4. Kiểm soát tốt và có hiệu quả việc chấp hành sử dụng phổ tần

Công tác kiểm tra kiểm soát, xử lý vi phạm và xử lý can nhiễu đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo thực thi quyền quản lý nhà nước về tần số. Triển khai “Quy hoạch tổng thể mạng đài kiểm soát tần số Việt Nam giai đoạn 2000-2010”, đồng thời để mở rộng địa bàn kiểm soát thư­ờng xuyên, Cục đã chú trọng đến việc triển khai, xây dựng  các trạm kiểm soát ĐKTX, kết hợp các trạm hiện đại và các trạm đơn giản. Đến nay, Cục đã có …. trạm kiểm soát ĐKTX đư­ợc lắp đặt và triển khai hoạt động đảm bảo độ tin cậy, hiệu quả trên địa bàn quản lý ở 8 Trung tâm KSTS khu vực.

Bằng các công nghệ kiểm soát đa năng, hiện đại và trang thiết bị kiểm soát hiện có, Cục thực hiện kiểm soát thư­ờng xuyên các dải tần từ (0-6)GHz tại tất cả các tỉnh thành trên toàn quốc. Nhờ tăng cường kiểm soát thường xuyên và mở rộng địa bàn kiểm soát, số vụ vi phạm đã giảm đáng kể, trật tự sử dụng phổ tần được tái lập, ý thức tiết kiệm trong sử dụng phổ tần của các tổ chức và cá nhân ngày càng được nâng cao.

Từ ngày thành lập đến nay, đã nhận và xử lý xong toàn bộ kháng nghị nhiễu, trong đó có nhiều vụ việc xác định nguồn nhiễu hết sức khó khăn, phức tạp như­: vụ gây nhiễu cố ý phá hoại thông tin điều hành taxi của Công ty Tân Hoàng Minh; vụ can nhiễu của Công ty thông tin di động VMS tại Hải Dư­ơng, Hải Phòng và Quảng Ninh, vụ can nhiễu cho Trung tâm điều hành bay...

Bên cạnh đó, Cục cũng thường xuyên phối hợp với các cơ quan chức năng kiểm soát phát hiện và xử lý các vụ sử dụng trạm VSAT để kinh doanh trái phép các dịch vụ viễn thông quốc tế...v.v.  Sự kiểm soát tích cực và có hiệu quả của Cục đã giúp giảm bớt can nhiễu, góp phần đảm bảo an toàn an ninh trong lĩnh vực thông tin và trật tự an toàn xã hội.

5. Hợp tác quốc tế, bảo vệ chủ quyền và quyền lợi quốc gia trong lĩnh vực tần số

Một trong những thành tích nổi bật của Cục trong thời gian qua là đã góp phần bảo vệ chủ quyền và quyền lợi quốc gia trong lĩnh vực tần số VTĐ. Điều đó được thực hiện thông qua đăng ký tần số quốc tế, phối hợp tần số biên giới, tham gia các Hội nghị thông tin vô tuyến thế giới WRC và các hội nghị khác có liên quan. Những đóng góp tích cực của Cục, thông qua hợp tác quốc tế, đã góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam, không chỉ trong lĩnh vực bưu chính viễn thông, trên trường quốc tế.

6. Tổ chức phối hợp tốt và có hiệu quả việc quản lý tần số giữa các khối Dân sự, An ninh, Quốc phòng

         Với trách nhiệm là Văn phòng của Uỷ ban Tần số vô tuyến điện (UBTSVTĐ), Cục đã tổ chức hoạt động của Uỷ ban dần đi vào nề nếp, hiệu quả, làm cho Uỷ ban thực sự trở thành nơi tập hợp các Lãnh đạo và cán bộ quản lý tần số của các Bộ, ngành của các khối dân sự, quân đội, an ninh để xem xét, đ­ưa ra nhận định và phương h­ướng giải quyết nhiều vấn đề quan trọng về chính sách tần số, về quy hoạch kênh, phân chia băng tần.

         7.  Xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại

        Cơ sở vật chất kỹ thuật của Cục đã không ngừng được tăng cường và hiện đại hoá. Cục đã trang bị một hệ thống máy tính, phần mềm ấn định tần số và quản trị dữ liệu tần số, dữ liệu bản đồ hiện đại. Các Trung tâm kiểm soát tần số đã lần lượt được trang bị các hệ thống kiểm soát, các thiết bị đo đạc và định hướng có dải tần rộng, độ chính xác cao. Khi mới thành lập (6/1993), Cục mới chỉ có 2 đài kiểm soát đặt tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, với thiết bị chỉ có một số máy bán chuyên dụng, thực hiện kiểm soát trong phạm vi hẹp, hiệu quả thấp. Tháng 10/ 1994, chiếc máy định hướng thu đo đầu tiên của Cục đã được đưa vào sử dụng. Từ đó đến nay, tổng giá trị vốn đầu tư cho hệ thống kỹ thuật quản lý tần số từ các nguồn vốn là hơn 280 tỷ đồng. “Quy hoạch tổng thể mạng đài kiểm soát tần số Việt Nam giai đoạn 2000-2010” được ban hành theo Quyết định số 1196/2000/QĐ-TCBĐ, ngày 11/12/2000 đang được đẩy nhanh tiến độ triển khai thực hiện, từng bước nâng cao năng lực kỹ thuật kiểm tra, kiểm soát.  Hiện tại, 8 Trung tâm Kiểm soát tần số đã được trang bị 17 trạm kiểm soát cố định và điều khiển từ xa hiện đại, 14 xe đo kiểm soát bán cố định và di động, 35 trạm kiểm soát điều khiển từ xa sử dụng máy thu R9000 và phần mềm điều khiển do Cục tự xây dựng. Cơ sở nhà trạm của hầu hết các Trung tâm kiểm soát tần số khu vực cũng đã được xây dựng kiên cố, khang trang mà điển hình là công trình Trung tâm Điều hành, Trung tâm kỹ thuật, Trung tâm kiểm soát tần số khu vực I, niềm tự hào của những người làm công tác quản lý tần số hôm nay.

8. Không ngừng kiện toàn tổ chức bộ máy và nhân sự

Tổ chức ban đầu của Cục khi mới thành lập chỉ bao gồm một khối Văn phòng và 2 Đài kiểm soát tại Hà nội và thành phố HCM. Tuy nhiên, để đảm bảo việc quản lý tần số, máy phát trên toàn quốc có hiệu quả hơn, Cục đã chủ động xây dựng mô hình tổ chức mới, có cơ cấu phù hợp với hình thái và phân bố địa lý ở Việt nam. Đến nay, hệ thống kiểm soát của Cục bao gồm 8 Trung tâm kiểm soát tần số khu vực tại Hà nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải phòng, Vinh, Cần thơ, Nha trang, Việt trì với nhiệm vụ kiểm soát tần số tại các khu vực trọng điểm, tạo điều kiện thuận lợi cho việc kiểm tra tình hình sử dụng và chấp hành sử dụng phổ tần trên quy mô toàn quốc.

Song song với việc triển khai các Trung tâm kiểm soát tần số khu vực, Cục cũng không ngừng mở rộng các Phòng chức năng và bổ sung, kiện toàn đội ngũ cán bộ. Khối Văn phòng đã được mở rộng lên 10 Phòng chức năng, 01 Trung tâm trực thuộc. Đội ngũ CBCNVC trong toàn Cục đã có gần 300 ngư­ời, đại bộ phận là các kỹ sư điện tử, viễn thông và công nghệ thông tin có năng lực và đầy nhiệt huyết với công tác quản lý tần số.

Mặt khác, Cục đã chú trọng đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, th­ường xuyên tổ chức cho cán bộ đi học các lớp học trong và ngoài nước về quản lý tần số, thông tin vệ tinh, thông tin di động, bồi dưỡng nghiệp vụ thông tin vô tuyến hàng không, thực hành kỹ năng thiết bị, kiến thức quản lý Nhà nư­ớc, lý luận chính trị.v.v.. Cục luôn khuyến khích các CBCC  theo học Cao học hoặc Đại học bằng hai ngoài giờ làm việc. Nhờ đó mà trình độ đội ngũ cán bộ của cục đã không ngừng được nâng cao, có khả năng giải quyết nhanh chóng và có hiệu quả các nhiệm vụ được giao.

            Ngoài ra, Cục Tần số còn thường xuyên phối hợp với các đơn vị thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng xử lý nhiều vụ can nhiễu giữa các mạng thông tin vô tuyến điện của dân sự với các mạng của an ninh, quốc phòng, phối hợp với công an địa phương sử dụng thiết bị kỹ thuật để giải quyết nhiều vụ việc liên quan đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội.  Sự phối hợp giữa Cục tần số vô tuyến điện với các đơn vị quân đội và công an trong việc xử lý các can nhiễu đã mang lại hiệu quả cao, rút ngắn thời gian điều tra và xử lý, đảm bảo sự làm việc bình thường của các mạng thông tin dân sự và an ninh quốc phòng.

 

III. NHỮNG PHẦN THƯỞNG CAO QUÝ

1. Huân chương lao động Hạng II về thành tích xuất sắc trong công tác từ năm 2000 đến năm 2002, góp phần vào sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc

2. Huân chương lao động Hạng III về thành tích xuất sắc trong công tác từ năm 1996 đến năm 2000, góp phần vào sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc.

3. Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ tặng thưởng về thành tích xuất sắc trong sản xuất, công tác năm 1995 đến năm 1997, góp phần vào sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc.

4. Cờ thi đua của Chính phủ năm 2004

5. Cờ thi đua của Bộ Bưu chính Viễn thông năm 2002, 2003, 2005 và 2006

6. Cờ thi đua Tổng cục Bưu điện năm 1999.

7. Bằng khen của Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện tặng về hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ năm 1996, 1997.

8. Bằng khen của Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện về hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ công tác giai đoạn 1993-1998.

9. Bằng khen của Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện về thành tích trong phong trào phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất và quản lý năm 1993-1995; 1996-1998

10. Bằng khen của Tổng cục An ninh -Bộ Công an về thành tích xuất sắc trong phong trào Bảo vệ an ninh Tổ quốc năm  1999

11. Bằng khen của Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam tặng về thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua lao động giỏi và xây dựng tổ chức Công đoàn vững mạnh năm 2006

12. Bằng khen của Công đoàn Bưu điện Việt Nam tặng về thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua lao động giỏi và xây dựng tổ chức Công đoàn vững mạnh các năm từ năm 2000 đến 2005.

13. Bằng khen của Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh về thành tích xuất sắc trong công tác đoàn và phong trào thanh thiếu nhi năm 2004

14. Bằng khen của Thành đoàn Hà Nội về thành tích xuất sắc trong công tác đoàn và phong trào thanh thiếu nhi năm 2003, 2005.

Ngoài ra, còn nhiều Bằng khen của Thủ tướng Chỉnh phủ, Bằng khen và Cờ thi đua của TCBĐ, Bằng khen của các đơn vị thuộc Bộ Công an và Bộ Quốc phòng v.v... cho các đơn vị cơ sở, dưới cơ sở và các cá nhân của Cục.

 IV. LÃNH ĐẠO CỤC QUA CÁC THỜI KỲ

     1. Ông Nguyễn Ngọc Cảnh

Giám đốc Trung tâm quản lý tần số quốc gia từ ... đến ...

Nghỉ hưu từ ...

 

2. Bà Hoàng Thị Nhã

Phó Cục trưởng từ … đến ...

Nghỉ hưu từ ….

 

3. Ông Lưu Văn Lượng

Cục trưởng từ năm 1993 đến tháng 01/2002

Nghỉ hưu từ tháng 02/2002

 

4. Bà Vũ Thị Bích

Phó Cục trưởng từ tháng 11/1993 đến tháng 11/2002

Cục trưởng từ tháng 12//2002 đến tháng 3/2006

Nghỉ hưu từ tháng 4/2006

 

5. Ông Chu Mai Hồng

Phó Cục trưởng từ tháng 2001 đến tháng 6/2005

Nghỉ hưu từ tháng 7/2005

    

 

6. Ông Đoàn Quang Hoan

     Phó Cục trưởng từ tháng 9/1998 đến tháng 04/2006

     Cục trưởng từ tháng 05/2006 đến nay

 

7. Ông Nguyễn Ngọc Duyên

     Phó Cục trưởng từ tháng 12/2001 đến nay

 

8. Bà Ngô Thuý Trầm

     Phó Cục trưởng từ tháng 10/2005 đến nay

  

9. Ông Nguyễn Ngọc Lâm

  Phó Cục trưởng từ tháng 12/2006 đến nay