Cục Quản lý Chất lượng, An toàn vệ sinh và Thú y thuỷ sản

Số 10 Nguyễn Công Hoan, Ba Đình, Hà Nội

(84) 04.8310983    Fax: (84) 04.8317221

nafiqaved@mofi.gov.vn

www.nafiqaved.gov.vn

Thông tin khác

QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN

            Từ những năm đầu thập niên 80 của thế kỷ XX, yêu cầu thành lập tổ chức kiểm soát chất lượng sản phẩm thủy sản xuất khẩu của Việt Nam đã được hình thành, cùng với việc Nhà nước cho phép Bộ Thủy sản thử nghiệm cơ chế tự cân đối, tự trang trải và thành lập Tổng Công ty xuất khẩu thủy sản Việt Nam – Seaprodex. Trung tâm KCS thủy sản xuất khẩu, trực thuộc T.Cty Seaprodex, được thành lập theo Quyết định số 347TS/QĐ ngày 31/05/1984 của Bộ Thủy sản, với chức năng kiểm tra và chứng nhận hàng thủy sản xuất khẩu theo danh mục quy định.

 

            Sang thập niên 90, nền kinh tế Việt Nam chuyển từ kế hoạch-bao cấp sang nền kinh tế nhiều thành phần và hoạt động theo cơ chế thị trường. Số doanh nghiệp chế biến thủy sản và được quyền tự xuất nhập khẩu thủy sản trực tiếp tăng vọt. Tình trạng chồng chéo, không thống nhất hoạt động giữa các cơ quan kiểm tra và chứng nhận chất lượng thủy sản xuất khẩu ngày một tăng. Trong khi đó, hàng loạt các thị trường lớn (EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Canada, Úc, Hàn Quốc…) ban hành ngày càng nhiều quy định nghiêm ngặt về kiểm soát chất lượng thực phẩm nhập khẩu. Hệ thống quản lý chất lượng các nước xuất khẩu thủy sản trong khu vực dần chuyển dịch theo hướng thực hiện các chương trình an toàn chất lượng, để đồng thời đáp ứng những thay đổi của các nước nhập khẩu và tạo tiền đề phát triển cho hoạt động quản lý chất lượng thủy sản tiêu dùng nội địa. Trước tình hình đó, được phép của Chính phủ (tại Nghị định 50/CP), Bộ Thủy sản đã ban hành quyết định số 648/QĐ ngày 26/08/1994 thành lập Trung tâm Kiểm tra Chất lượng và Vệ sinh Thủy sản (NAFIQACEN), với chức năng giúp việc Bộ trưởng quản lý thống nhất hoạt động kiểm tra, chứng nhận chất lượng và vệ sinh thủy sản trong tất cả các khâu khai thác, nuôi trồng, chế biến, bảo quản, vận chuyển, xuất khẩu và tiêu thụ nội địa trên phạm vi cả nước.


            Từ năm 1994 – 2003, NAFIQACEN đã xây dựng thành một hệ thống gồm Trung tâm tại Hà Nội và 6 chi nhánh trực thuộc tại các vùng trọng điểm nghề cá trên cả nước, với tổng số 190 cán bộ nhân viên. NAFIQACEN đã tích cực tham mưu, trình Bộ ban hành nhiều văn bản quản lý chuyên ngành quan trọng, góp phần làm chuyển hướng hoạt động quản lý chất lượng thủy sản từ lấy mẫu kiểm tra sản phẩm cuối cùng sang kiểm soát toàn bộ quá trình sản xuất theo nguyên lý phòng ngừa; Thực hiện kiểm tra chứng nhận nhà nước cho 85-90% hàng thủy sản xuất khẩu của Việt Nam; Tổ chức hàng ngàn đợt kiểm tra điều kiện sản xuất, an toàn vệ sinh các cơ sở chế biến thủy sản, kết hợp hướng dẫn, đào tạo cho hàng trăm doanh nghiệp về áp dụng các chương trình quản lý chất lượng và nâng cấp điều kiện nhà xưởng, đưa số DN được phép xuất khẩu vào các thị trường khó tính như EU, Nhật Bản, Hàn Quốc,... ngày một tăng. Các Chương trình kiểm soát an toàn vệ sinh vùng thu hoạch nhuyễn thể hai mảnh vỏ (1997), Chương trình kiểm soát dư lượng hóa chất độc hại trong thủy sản nuôi (1999) đã đi vào hoạt động ổn định và đáp ứng yêu cầu của thị trường EU. Kết quả đã góp phần thúc đẩy thủy sản xuất khẩu của Việt Nam, tăng bình quân 12.3%/năm, đưa Việt Nam vào danh sách nhóm I các nước xuất khẩu thủy sản vào EU. NAFIQACEN được 22 thị trường/quốc gia công nhận là cơ quan nhà nước có thẩm quyền đảm bảo chất lượng, an toàn vệ sinh thủy sản của Việt Nam.


            Bước sang đầu thế kỷ XXI, hội nhập kinh tế quốc tế trở thành một xu thế tất yếu, diễn ra mạnh mẽ ở cả cấp độ khu vực lẫn toàn cầu. Thay thế các rào cản quan thuế và hạn ngạch đang dần bị dỡ bỏ, các rào cản khác (trong đó có rào cản kỹ thuật - TBT và rào cản an toàn vệ sinh, an toàn dịch bệnh - SPS) ngày càng được các nước và thị trường phát huy, gây cản trở lớn cho các nước xuất khẩu, đặc biệt là các nước có trình độ quản lý và công nghệ chưa cao. Trước bối cảnh đó, trong chiến lược cải cách hành chính chung của Chính phủ giai đoạn mới (2001-2010), Bộ Thủy sản tiến hành điều chỉnh bộ máy quản lý theo hướng tinh gọn, hiệu lực và hiệu quả, giảm thao tác cho doanh nghiệp. Công tác quản lý chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm thủy sản (do NAFIQACEN đảm trách); và quản lý thức ăn, thuốc thú y, hóa chất, chế phẩm sinh học phục vụ nuôi trồng thủy sản; phòng trị dịch bệnh thủy sản (do Cục KT&BVNLTS thực hiện) được quy tụ về một đầu mối, thành một hệ thống thống nhất từ Trung ương đến địa phương – đúng theo nguyên tắc quản lý tiên tiến trên thế giới: quản lý thống nhất “từ ao nuôi đến bàn ăn”, nhằm tạo ra sản phẩm thủy sản có thể truy nguyên nguồn gốc và quản lý thống nhất những người tham gia vào chuỗi sản xuất đang sử dụng chung một nguồn lợi thiên nhiên, các doanh nghiệp khai thác chung một thị trường. Nghị định 43/2003/NĐ-CP ngày 02/05/2003 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Thủy sản cho phép thành lập Cục Quản lý Chất lượng, An toàn vệ sinh và Thú y Thủy sản (NAFIQAVED). Ngày 5/8/2003, Bộ trưởng Bộ Thủy sản ra Quyết định số 07/2003/QĐ-BTS quy định NAFIQAVED có chức năng giúp Bộ trưởng thực hiện quản lý nhà nước chuyên ngành về chất lượng, an toàn vệ sinh và thú y thuỷ sản từ sản xuất nguyên liệu đến chế biến và tiêu thụ sản phẩm thuỷ sản nhằm phòng ngừa dịch bệnh thuỷ sản, bảo đảm chất lượng, an toàn, vệ sinh thực phẩm thuỷ sản và bảo vệ sức khoẻ người tiêu dùng.


            Phát huy những thành quả đạt được của NAFIQACEN, NAFIQAVED tiếp tục duy trì và đẩy mạnh công tác kiểm soát chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm thủy sản. Số doanh nghiệp chế biến thủy sản quy mô công nghiệp năm 2005 tăng gấp đôi so với năm 2000 (184%), trong đó số doanh nghiệp đạt TCN và lọt vào danh sách xuất khẩu của các thị trường liên tục tăng, bình quân 40%/năm. Về tình hình kiểm tra chứng nhận chất lượng hàng xuất khẩu, tỉ lệ hàng bị cảnh báo trên lượng hàng qua kiểm tra chứng nhận giảm (năm 2003 là 2,3%, 2004: 1,1%, 2005: 0,7%), mặc dù lượng hàng và chỉ tiêu phải kiểm tra theo yêu cầu thị trường liên tục tăng. Tình trạng nhiễm Chloramphenicol và Nitrofurans đã được khắc phục cơ bản. Hoạt động kiểm tra điều kiện an toàn vệ sinh nguyên liệu trước chế biến được thực hiện đã bước đầu giúp khép kín quy trình tổ chức quản lý chất lượng, an toàn vệ sinh thủy sản toàn bộ quá trình sản xuất. Vừa qua, NAFIQAVED đã mở rộng triển khai một số chương trình lớn nhằm tiếp cận mục tiêu kiểm soát toàn bộ quá trình, điển hình có hoạt động nghiên cứu xây dựng hệ thống mã hoá và truy xuất nguồn gốc sản phẩm thủy sản, chuẩn bị điều kiện áp dụng thí điểm tại 3 tỉnh Khánh Hoà (chuỗi sản xuất cá ngừ), Bến Tre (chuỗi sản xuất tôm nuôi) và An Giang (chuỗi sản xuất cá basa).


            Tiếp nhận nhiệm vụ mới về quản lý sức khoẻ động thực vật dưới nước và lưỡng cư trong điều kiện tốc độ tăng trưởng bình quân về sản lượng nuôi trồng hàng năm đạt 20,57%, tỉ trọng nuôi thâm canh và siêu thâm canh phát triển mạnh mẽ, nguy cơ dịch bệnh bùng phát, môi trường suy thoái và nguyên liệu không đảm bảo an toàn thực phẩm ngày càng lớn, trong khi điều kiện cơ sở vật chất và con người gần như chỉ là con số “0”… trở thách thức vô cùng lớn lao đối với NAFIQAVED. Một lần nữa, tập thể cán bộ NAFIQAVED phải phát huy tinh thần nỗ lực cao độ, cùng phấn đấu vượt qua khó khăn, để gánh vác và hoàn thành tốt trọng trách do Chính phủ và Bộ Thủy sản giao phó.


            Trong hai năm qua, NAFIQAVED đã tích cực tham gia quá trình xây dựng bộ khung pháp lý cho công tác bảo vệ động thực vật dưới nước và lưỡng cư, phân định rõ chức năng nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi kiểm soát giữa các cơ quan hữu quan trong lĩnh vực quản lý bảo vệ sức khoẻ động thực vật; tham mưu trình Bộ ban hành nhiều văn bản quản lý chuyên ngành quan trọng như Quyết định 07/2005/QĐ-BTS ngày 24/2/2005 ban hành danh mục hoá chất, kháng sinh cấm sử dụng, hạn chế sử dụng trong sản xuất kinh doanh thủy sản, Quyết định 26/2005/QĐ-BTS ngày 18/8/2005 bổ sung danh mục kháng sinh nhóm fluoroquinolone cấm sử dụng trong sản xuất kinh doanh thủy sản xuất khẩu vào Hoa Kỳ và Bắc Mỹ; đồng thời đang triển khai xây dựng hàng loạt quy chế, quy định về quản lý thuốc thú y, chất xử lý môi trường dùng trong nuôi trồng thủy sản; hoạt động kiểm dịch thủy sản; quản lý XNK thức ăn, thuốc thú y, chất xử lý môi trường… Đặc biệt, Hội đồng Bảo vệ sức khoẻ động vật dưới nước và lưỡng cư quốc gia ra đời (4/2005), với sự tham gia của đông đảo các nhà khoa học, chuyên gia thực tế của các Bộ, Viện, Trường các ngành đã hỗ trợ tích cực cho Bộ trưởng và các đơn vị thuộc Bộ trong việc xây dựng chính sách, kế hoạch về công tác thú y thủy.


            Năm 2005, NAFIQAVED đã ưu tiên xúc tiến nhiều hoạt động bồi dưỡng, đào tạo và phổ biến kiến thức về quản lý thú y thủy sản cho cán bộ cấp trung ương lẫn địa phương cũng như các thành phần liên đới trong chuỗi sản xuất (từ người sản xuất thuốc thú y, thức ăn, chất xử lý môi trường đến người nuôi và nhà chế biến sản phẩm thủy sản), với sự tham gia của trên 1.600 lượt người. Các hoạt động cấp phép nhập khẩu, thẩm định cấp/gia hạn đăng ký sản xuất thuốc thú y, sản phẩm xử lý môi trường dùng trong NTTS; kiểm tra chất lượng thức ăn nuôi trồng thủy sản; kiểm soát XNK giống thủy sản; phòng trừ dịch bệnh và quản lý chứng chỉ hành nghề thú y… bước đầu đã được triển khai.


            Cùng với những nỗ lực trong công tác quản lý chất lượng và thú y thủy sản, hoạt động mở rộng quan hệ hợp tác cũng được NAFIQAVED quan tâm sâu sắc. Cho đến nay, NAFIQAVED đã có thoả thuận song phương với 6 cơ quan thẩm quyền tương đương các nước, giao dịch quan hệ với gần 90 cơ quan thẩm quyền/tổ chức quốc tế trên thế giới, thông qua đó tổ chức hàng trăm đợt giao lưu trao đổi kinh nghiệm, tham gia các chương trình đào tạo, hội thảo, hội nghị quốc tế và khu vực. Vừa qua, NAFIQAVED đã chủ trì tổ chức Hội thảo quốc tế về tôm chân trắng, thu hút hơn 20 chuyên gia khu vực và quốc tế cùng hàng trăm đại diện doanh nghiệp trong cả nước được Bộ Thủy sản và giới chuyên môn đánh giá cao. Với các cơ quan trong nước, NAFIQAVED có sáng kiến hợp tác 6 đơn vị (Tổng cục TCĐLCL - Bộ KHCN, Cục Vệ sinh An toàn thực phẩm - Bộ Y tế, Cục Thú y - Bộ NN&PTNT, Cục Quản lý thị trường - Bộ Thương mại, NAFIQAVED) họp thường quý để trao đổi kinh nghiệm và thúc đẩy hoạt động kiểm soát chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm nói chung và thực phẩm thủy sản nói riêng.


            Với những thành tích đáng khích lệ, NAFIQACEN trước đây đã vinh dự được nhận nhiều bằng khen của Nhà nước, Chính phủ, Bộ Thủy sản và các Bộ ngành, các tổ chức trong và ngoài nước. Kế thừa truyền thống tốt đẹp, NAFIQAVED đã, đang và sẽ mãi tiếp tục phấn đấu vì trọng trách chính trị mà Chính phủ và Bộ Thủy sản giao phó. Và ngày 13/01/2005, tại Hội trường Bộ Thủy sản, NAFIQAVED đã long trọng tổ chức lễ đón nhận Huân chương lao động hạng II - phần thưởng cao quý của Nhà nước trao tặng để ghi những nhận thành tựu mà tập thể cán bộ đơn vị đã phấn đấu trong những năm qua.
 
 
 
 
Vị trí, chức năng:


Cục Quản lý Chất lượng, An toàn vệ sinh và Thú y thuỷ sản (gọi tắt là Cục Chất lượng và Thú y thuỷ sản) là tổ chức giúp Bộ trưởng thực hiện quản lý nhà nước chuyên ngành về chất lượng, an toàn vệ sinh và thú y thuỷ sản từ sản xuất nguyên liện đến chế biến và tiêu thụ sản phẩm thuỷ sản nhằm phòng ngừa dịch bệnh thuỷ sản, bảo đảm chất lượng, an toàn, vệ sinh thực phẩm thuỷ sản và bảo vệ sức khoẻ người tiêu dùng.


       Tên giao dịch quốc tế : The National Fisheries Quality Assuranee and Veterinary Directorate, viết tắt là NAFIQAVED.


        Nhiệm vụ và quyền hạn cụ thể của Cục như sau:


1. Xây dựng và trình Bộ trưởng các dự thảo chiến lược, quy hoạch phát triển, kế hoạch dài hạn, hằng năm, chương trình, dự án về chất lượng, an toàn vệ sinh và thú y thuỷ sản.


2. Đề xuất và trình Bộ trưởng các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật về chất lượng, an toàn vệ sinh và thú y thuỷ sản do Bộ trưởng phân công.


3. Triển khai thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật theo chức năng, nhiệm vụ được giao.


4. Giám sát, kiểm tra việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, dự án và đề xuất, kiến nghị sửa đổi, bổ sung hoặc xây dựng mới các văn bản quy phạm pháp luật về chất lượng, an toàn vệ sinh và thú y thuỷ sản.


5. Quản lý chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm thuỷ sản :


a) Kiểm tra, công nhận hoặc huỷ bỏ việc công nhận điều kiện đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm thuỷ sản đối với :


-   Tàu cá, cảng cá, chợ cá, cơ sở thu gom nguyên liệu, cơ sở bảo quản, cơ sở chế biến và kinh doanh thuỷ sản;


-   Các cơ sở nuôi trồng, cơ sở sản xuất kinh doanh thức ăn, thuốc thú y, hoá chất và chế phẩm sinh học phục vụ nuôi trồng thuỷ sản;


b) Kiểm tra, chứng nhận nhà nước về an toàn thực phẩm đối với nguyên liệu và sản phẩm thuỷ sản theo quy định của pháp luật;


c) Tham gia kiểm soát ảnh hưởng của thuốc bảo vệ thực vật, chất thải công nghiệp, chất thải sinh hoạt đến môi trường nuôi trồng thuỷ sản, kiến nghị với các cơ quan chức năng có liên quan để có biện pháp xử lý kịp thời.


6. Quản lý thú y thuỷ sản :


a) Hướng dẫn và tổ chức thực hiện việc phòng trừ dịch bệnh và dập tắt ổ bệnh thuỷ sản. Đề xuất việc công bố và bãi bỏ công bố dịch bệnh thuỷ sản theo quy định của pháp luật. Phối hợp với cơ quan có liên quan thực hiện các biện pháp phục hồi môi trường sau khi dập tắt ổ bệnh, dịch bệnh;


b) Chỉ đạo và tổ chức thực hiện kiểm dịch động, thực hiện kiểm dịch động, thực vật thuỷ sản xuất khẩu, nhập khẩu và lưu chuyển trong nước theo quy định của pháp luật;


c) Giám sát, kiểm tra việc thực hiện quy định về khảo nghiệm giống, thức ăn, thuốc, hoá chất, chế phẩm sinh học trong phạm vi được giao; việc thực hiện quy định về danh mục các đối tượng thuộc diện kiểm dịch thuỷ sản, danh mục cấm xuất, nhậtp khẩu và hạn chế xuất, nhập khẩu đối với giống, thức ăn, thuốc thú y, hoá chất và chế phẩm sinh học phục vụ nuôi trồng thuỷ sản;


d) Kiểm tra, công nhận hoặc huỷ bỏ việc công nhận an toàn dịch bệnh đối với các cơ sở nuôi trồng, cơ sở sản xuất kinh doanh thức ăn, thuốc thú y, hoá chất và chế phẩm sinh học phục vụ nuôi trồng thuỷ sản;


e) Kiểm tra, chứng nhận an toàn dịch bệnh đối với thức ăn, thuốc thú y, hoá chất, chế phẩm sinh học phục vụ nuôi trồng thuỷ sản.


7. Thực hiện việc cấp, thu hồi các loại giấy phép, giấy chứng nhận thuộc lĩnh vực chất lượng, an toàn vệ sinh và thú y thuỷ sản; giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu giống, thức ăn, thuốc thú y, hoá chất và chế phẩm sinh học dùng trong nuôi trồng thuỷ sản theo quy định của pháp luật;


Tham gia thẩm định các dự án qui hoạch, dự án đầu tư thuỷ sản về nội dung đảm bảo chất lượng, an toàn vệ sinh và thú y thuỷ sản; Công nhận phòng kiểm nghiệm chất lượng an toàn vệ sinh thuỷ sản, phòng kiểm nghiệm dịch bệnh thuỷ sản theo qui định của pháp luật.


Nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật, công nghệ mới về quản lý chất lượng, an toàn vệ sinh và thú y thuỷ sản.


Thực hiện hợp tác quốc tế trong lĩnh vực chất lượng, an toàn vệ sinh và thú y thuỷ sản; ký kết hoặc trình cơ quan có thẩm quyền ký kết các văn bản hợp tác theo qui định của pháp luật.


Thanh tra, kiểm tra, xử lý theo thẩm quyền các vi phạm pháp luật trong lĩnh vực thuỷ sản theo quy định của pháp luật thuộc lĩnh vực được giao;


Chỉ đạo và tổ chức thực hiện công tác bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ về quản lý chất lượng, an toàn vệ sinh và thú y thuỷ sản cho cán bộ trong toàn hệ thống;


Thực hiện các dịch vụ chuyên môn theo qui định của pháp luật.


Quản lý, sử dụng lao động, tài sản, tài chính của Cục và các đơn vị trực thuộc theo quy định của pháp luật. Thống nhất quản lý chuyên môn kỹ thuật, nghiệp vụ và kết quả hoạt động của hệ thống tổ chức thuộc phạm vi Cục quản lý ở địa phương.


 Thực hiện các nhiệm vụ khác do Bộ trưởng giao.