CÔNG TY CP THƯƠNG MẠI DƯỢC PHẨM HOA BAN

51/612 Đường Đê La Thành, P. Giảng Võ, Q. Ba Đình, Thành phố Hà Nội

(84-4) 3771 0129    Fax: (84-4) 3771 1040

Pharma@hoaban.com.vn

http://hoaban.com.vn

Thông tin khác

 Chúng tôi xin trân thành cảm ơn bạn đọc đã quan tâm đến bài giới thiệu về tác dụng của Lộc Nhung Hươu trong Y Học được trích dẫn của nhiều tác giả khác nhau do Dược sĩ: Trần Đức Lâm biên soạn.
Rất mong được sự quan tâm giúp đỡ của bạn đọc.
Thay mặt Cty CPTM Dược Phẩm Hoa Ban: Xin trân trọng cảm ơn!
I. Công dụng chữa bệnh của nhung hươu
1. Từ lâu, y học cổ truyền đã biết tác dụng của nhung hươu nai và ứng dụng vào trị bệnh, tuy nhiên kết quả cũng có giới hạn. Hiện nay, y học vẫn tiếp tục nghiên cứu dược tính của nhung hươu nhằm phát hiện thêm những tác dụng chữa bệnh mới.
2. Nhung hươu nai là sừng của hươu đực. Hàng năm, vào cuối mùa hạ, sừng hươu, nai rụng đi, mùa xuân năm sau mọc lại sừng mới. Sừng mới mọc rất mềm, mặt ngoài phủ đầy lông, sờ vào êm như nhung nên gọi là nhung hươu nai, bên trong chứa nhiều mạch máu. Nhưng có thể chưa phân nhánh và có  nhánh, còn gọi là nhung yên ngựa (nhung bắt đầu phân nhánh, còn ngắn, hai bên dài bên ngắn).
3. Huyết nhung và nhung yên ngựa là quý nhất. Nhung cắt xong cần chế biến ngay, để lâu sẽ thối rữa. Người ta đã phân tích được thành phần hóa học của nhung hươu nai, gồm canxi cacbonat, canxi phosphas, chất keo, protid, kích tố (testosteron, pentocrin....), Acid amin (hơn 17 loại).
4. Theo tây y, nhung hươu giúp tăng sức mạnh cơ bắp, sảng khoái tinh thần, vết thương mau lành, ăn ngủ tốt, lợi niệu và tăng nhu động dạ dày-ruột, chuyển hóa tốt protid và glucid... Liều mạnh gây hạ huyết áp, làm tim co bóp mạnh, đập nhanh , giật cơ, co giật hay đông huyết.
5. Theo y học cổ truyền Việt Nam, nhung có tác dụng sinh tinh, bổ tủy, ích huyết, chữa các chứng hư tổn cơ thể, di tinh, liệt dương, vô sinh, bệnh lậu, giúp khỏe gân xương, tăng tuổi thọ... Từ lâu đời, các thầy thuốc Đông y Trung Quốc và Nhật đã dùng nhung như vị thuốc bổ, giúp cơ thể lâu già, chống co giật, chữa ung bứu, thấp khớp.
6. Nhung hươu nai tuy bổ nhưng không phải ai cũng dùng được. Những người không dùng được là: người gầy, trong mình nóng, thiếu máu hay mất máu nhưng nhiệt độ cơ thể cao hơn bình thường, viêm phế quản, khạc đờm vàng, sốt, bệnh truyền nhiễm.
II. Các bài thuốc có nhung hươu
1. Chữa liệt dương, xuất tinh sớm, tiểu lắt nhắt, thai khó đậu, tứ chi lạnh, thắt lưng đau, gối mỏi: nhung hươu  40 g (thái mỏng, giã nát). Cho vào túi vải, ngâm với 1lít rượu trong 7 ngày, uống 10-20ml/ngày. Khi hết rượu lấy bã tán mịn, vò viên uống.
2. Chữa tinh huyết khô kiệt, tai điếc, miệng khát, đau lưng, tiểu như nước vo gạo: Nhung 40 g, Đương quy 40 g, cả 2 sao khô, tán bột. Lấy thịt ô mai nấu thành cao trộn với bột trên, vo viên bằng hạt bắp, người lớn uống 50 viên/ ngày, chia thnah 2-3 lần, uống với nước cơm còn ấm.
3. Chữa trẻ  em  chậm lớn, còi xương, còi xương, suy dinh dưỡng: Bột nhung 0,5 g x 2 lần trên ngày.
 4. Giúp kéo dài tuổi thọ (dùng thường xuyên và đúng chỉ định): Bột nhung 0,3-1 g x 2-3 lần/ngày.
Để nhận biết nhung thật, sơ bộ xem chỗ mặt cắt. Mặt cắt nhung thật sạch, trắng, có lỗ nhỏ như tổ ong, rìa ngoài không có chất xương, mùi tanh, vị mặn.
III. Tác dụng nhung hươu
Tác dụng dược lý: Báo Y học Liên Xô tháng 2-1954, Rexetnikova A.D giới thiệu tác dụng của Lộc nhung như sau:
- Lộc nhung có tác dụng tốt đối với toàn thân, nâng cao năng lực công tác, giúp ăn ngủ ngon, bớt mệt mỏi, làm nhanh lành các vết thương, tăng sức lợi niệu, tăng nhu động ruột và bao tử, ảnh hưởng tốt đến việc chuyển hóa các chất Protid và Glucid.
- Liều lượng khác nhau của Lộc nhung có tác dụng khác nhau đối với mạch máu tim: liều cao gây hạ huyết áp, biên độ co bóp của tim tăng, tim đập nhanh, lượng huyết do tim phát ra cũng tăng lên.
- Tác dụng đối với tim mạch: Theo loại nhung của Tây bá lợi á, lấy ra chất Lộc Nhung Tinh’(pantocrinum), dùng liều cao có thể làm hạ  huyết áp, tăng lưu lượng máu động mạch vành của tim chuột lớn cô lập, tim co bóp mạnh hơn, nhịp tim chậm lại, làm cường tim. Trên thực nghiệm còn thấy có tác dụng phòng trị nhịp tim không đều, tăng nhanh sự hồi phục huyết áp thấp do mất máu cấp ( Trung Dược Đại Từ Điển ).
- Tác dụng cường tráng: Lộc nhung tinh có tác dụng như  kích thích tố sinh dục, làm tăng nhanh thể trọng và chiều cao của chuột bạch thí nghiệm và tử cung của chuột cái phát triển, tăng nhanh sự hồi phục của xương và làm vết thương chóng lành ( Trung Dược Đại Từ Điển ).
- Tác dụng chống loét: cahtas polysacaride của Lộc nhung có tác dụng chống loét rõ đối với mô hình  gây loét bằng Acid Acetic hoặc các môn vị ( Trung Dược Đại Từ Điển ).
- Tác dụng tổng thể: Lộc nhung tinh có tác dụng cường tráng, chống mỏi mệt, nâng cao hiệu quả công tác, cải thiện giấc ngủ, kích thích tiêu hóa, cải thiện trạng thái suy dinh dưỡng và rối loạn chuyển hóa đạm, cải thiện trạng thái chuyển hóa năng lượng thấp, làm cho ruột chịu đựng tốt hơn ở môi trường nhiệt độ cao hoặc nhiệt độ tháp. Nâng cao tính miễn dịch của cơ thể, làm tăng hồng cầu, huyết sắc tố và sự tăng sinh của tế bào lưới hồng cầu, tăng bạch cầu ( Trung Dược Học ).
IV. Tác dụng chủ trị
- Ích khí, cường khí, sinh xỉ, bất lão, chủ lậu hạ ác huyết, hàn nhiệt kinh giải ( Bản Kinh )
- Dưỡng cốt, an thai uống lâu kéo dài tuổi thọ. Trị hư lao, sốt rét, gầy ốm, tay chân đau, lưng và thắt lưng đau, tiết tinh, huyết suy, bụng có bướu máu, tán sỏi đương tiểu, u nhọt, nóng trong xương ( Danh Y Biệt Lục ).
- Bổ cho nam giới bị lưng lạnh, chân và gối không có sức, mộng tinh, tiết tinh, phụ nữ bị băng trung lậu huyết (nướng lên uống với rượu, lúc đói) [Dược Tính Luận]. Bổ hư, tráng gân cốt, phá ứ huyết, an thai, hạ khí (nướng với dấm để dùng)[Nhật Hoa Tử Bản Thảo].
- Sinh tinh, bổ tủy, dưỡng huyết, ích dương làm mạnh gân xương. Trị hư tổn, tai ù, mắt mờ, chóng mặt, hư lỵ... Toàn thân con hươu đều bổ dưỡng cho con người (Bản Thao Cương Mục).
- Trị trẻ nhỏ bị đậu tráng nhạt, nước đậu không vỡ, tiêu chảy, người già Tỳ Vị hư hàn, mệnh môn không có hỏa hoặc ăn uống thất thường (Bản Thảo Sơ Yếu).
- Tráng nguyên dương, bổ khí huyết, ích tinh tủy, cường gân cốt. Trị hư lao, gầy ốm, tinh thần mê muội, chóng mặt, tai ù, mắt mờ, lưng gối đau, liệt dương, hoạt tinh, tử cung hư lạnh, băng lậu, đái hạ (Trung Dược Đại Từ Điển).